Sau một chặng đường dài nỗ lực không mệt mỏi, với một sự bứt phá về kỹ thuật, tay nghề, các y, bác sỹ, cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã xây dựng bệnh viện trở thành đơn vị xuất sắc toàn diện, xứng đáng là một trong những bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của y tế Việt Nam.
Thấm thoắt đã 45 năm, từ ngày Bệnh viện Nội tiết Trung ương mới chỉ có 30 giường bệnh, với 4 dãy nhà cấp bốn sơ sài ở khu B, Yên Lãng (Hà Nội), thuốc men thiếu, đội ngũ y, bác sỹ còn mỏng, trang thiết bị y tế hầu như chưa có gì, khó khăn trăm bề. Vậy mà, sau một chặng đường dài nỗ lực không mệt mỏi, với một sự bứt phá về kỹ thuật, tay nghề, các y, bác sỹ, cán bộ, công nhân viên của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã xây dựng bệnh viện trở thành đơn vị xuất sắc toàn diện, xứng đáng là một trong những bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của y tế Việt Nam. Đặc biệt hơn, nhiều kỹ thuật của bệnh viện đã trở thành kỹ thuật mũi nhọn, nổi tiếng trong khu vực và nhiều nước trên thế giới. Chủ lực thực hiện nhiều mục tiêu y tế quốc gia Tháng 9/1969, Bệnh viện Nội tiết Trung ương được thành lập, là một bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế. Ra đời trong lúc đất nước chiến tranh, lúc đó bệnh viện chỉ có 7 cán bộ được điều động từ các đơn vị khác về nhưng phải cùng lúc vừa xây dựng đơn vị, vừa bắt tay vào công việc chuyên môn, vừa phải lo thường trực với mọi hiểm họa, đánh phá của máy bay giặc Mỹ. Một số bác sỹ “lão thành” có mặt tại bệnh viện từ khi còn “sơ khai trứng nước” đã tâm sự, nhiều lúc nghĩ lại, chính họ cũng không thể hiểu được vì sao, trong điều kiện khó khăn như vậy mà bệnh viện non trẻ ấy lại có thể làm được nhiều việc mà Đảng, Nhà nước và ngành Y tế giao phó. Chỉ với 30 giường bệnh, với vài ba phòng bệnh, phòng làm việc nhưng Bệnh viện Nội tiết Trung ương ngày đó đã phải tập trung vào các nhiệm vụ căn bản. Đó là: Phòng chống bướu cổ cho nhân dân các tỉnh miền núi phía Bắc; khám chữa bệnh bướu cổ cho nhân dân miền Bắc; đồng thời nghiên cứu các phương pháp phòng chống bướu cổ có hiệu quả nhất phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta lúc bấy giờ.
Được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành có nhiệm vụ giúp Bộ chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật phòng và chống bệnh bướu cổ, nội tiết ở các địa phương, bệnh viện đã xây dựng mạng lưới phòng chống bướu cổ cho 13 tỉnh miền núi phía Bắc. Nhờ có những hoạt động tích cực, lâu dài mà bệnh bướu cổ ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã được khống chế. Sau ngày đất nước giải phóng, Bệnh viện Nội tiết Trung ương bước sang một thời kỳ phát triển mới. Bệnh viện mở rộng phạm vi tiếp nhận và điều trị các bệnh liên quan đến nội tiết là bướu cổ đơn thuần, bệnh basedow, bệnh suy giáp và đái tháo đường. Năm 1989, lần đầu tiên Bệnh viện Nội tiết Trung ương tổ chức hội nghị khoa học toàn quốc tại Hà Nội, báo cáo kết quả phòng chống bướu cổ và trình Chính phủ Dự án quốc gia phòng chống bướu cổ. Đây là tiền đề, đặt nền móng cho Chương trình quốc gia phòng chống bướu cổ. Sau đó, chương trình đã mở cuộc điều tra chống rối loạn thiếu iot trên quy mô toàn quốc đầu tiên với sự giúp đỡ về kỹ thuật và chuyên gia, tài chính của UNICEF. Thông qua kết quả điều tra, một bản đồ dịch tễ học về thiếu iot trên phạm vi cả nước đã được hình thành, giúp cho Chương trình quốc gia phòng chống bướu cổ định ra phương hướng chiến lược cho toàn quốc. Sau những nỗ lực không mệt mỏi, năm 2005, Việt Nam đã hoàn thành cam kết với các tổ chức về việc thanh toán các rối loạn iot cấp độ quốc gia. Đây là thành quả có sự đóng góp lớn lao của các y, bác sỹ Bệnh viện Nội tiết Trung ương Không chỉ góp phần thành công thanh toán xong bệnh bướu cổ địa phương do thiếu iot, Bệnh viện Nội tiết Trung ương còn là chủ đầu mối thực hiện thành công Đề án cấp Nhà nước về phòng chống bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Bệnh viện được giao nhiệm vụ thực hiện Dự án phòng chống ĐTĐ đã tiếp cận với các tổ chức quốc tế, tranh thủ viện trợ, sự trợ giúp về kỹ thuật từ các chuyên gia hàng đầu trên thế giới, từ châu Á, châu Âu và sự cam kết của Chính phủ trong việc phòng chống bệnh ĐTĐ đã từng bước thực hiện khám sàng lọc, phát hiện sớm người mắc bệnh ĐTĐ, tiền ĐTĐ tại cộng đồng; giúp đỡ người dân nâng cao nhận thức về phòng chống bệnh ĐTĐ thông qua các hoạt động truyền thông về căn bệnh này… Chuyển giao nhiều kỹ thuật mũi nhọn ra khu vực và thế giới PGS.TS Trần Ngọc Lương, Phó Giám đốc phụ trách điều hành Bệnh viện Nội tiết Trung ương chia sẻ, một trong những thành công của bệnh viện là đã thực hiện được giảm tải bệnh viện theo chủ trương của Chính phủ và Bộ Y tế. Hiện nay, với hai cơ sở khám chữa bệnh thì cơ sở mới ở xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì đã đảm bảo toàn bộ công tác khám, chữa bệnh ngoại trú của bệnh viện, chiếm tới 95% số lượng bệnh nhân của bệnh viện, triển khai được trên 300 giường điều trị nội trú, góp phần giảm tải cho bệnh viện, bệnh nhân không phải nằm ghép điều trị như trước, giúp cho bệnh nhân phục hồi sức khỏe, điều trị tốt hơn. Bệnh viện đã tiến một bước dài trong việc kiện toàn bộ máy, đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân cả nước. Đáng mừng là cho đến nay, Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã làm được hầu hết các xét nghiệm phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là xét nghiệm chuyên khoa ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. Không dừng lại ở đó, với sự say mê sáng tạo, tập thể y, bác sỹ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã biến nhiều kỹ thuật y học khó thành “kỹ thuật thường quy” tại bệnh viện và trở thành kỹ thuật mũi nhọn của ngành Y tế. Đó là kỹ thuật mổ nội soi tuyến giáp – một kỹ thuật rất phức tạp, khó khăn. PGS.TS Trần Ngọc Lương, người có thể được coi là “kiến trúc sư trưởng” của kỹ thuật này đã được các đồng nghiệp, bạn bè và nhiều phẫu thuật viên nổi tiếng trong khu vực và thế giới dành cho anh một từ giản dị: kỹ thuật nội soi tuyến giáp “Dr Lương”. Trong khi ở Hàn Quốc, phẫu thuật tuyến giáp bằng robot mất gần 2 giờ đồng hồ thì kỹ thuật của “Dr Lương” chỉ mất 20 - 30 phút nhưng vẫn đảm bảo được an toàn. Nói cách khác, kỹ thuật “Dr Lương” an toàn hơn, đơn giản hơn, thời gian ngắn hơn, thẩm mỹ hơn và cũng ít tốn kém hơn rất nhiều. Kỹ thuật nội soi tuyến giáp của Bệnh viện Nội tiết Trung ương đến nay đã trở thành kỹ thuật tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á, châu Á và tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 200 giáo sư, bác sỹ Singapore, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Australia đã đến bệnh viện để học tập và thực hiện kỹ thuật này theo sự hướng dẫn của “Dr Lương” và đồng nghiệp của anh. Có một bác sỹ người Singapore, gốc Ấn Độ đã từng tu nghiệp ở Mỹ 2 năm, đã được chuyển giao những kỹ thuật tài hoa của các bác sỹ người Mỹ. Sau đó, anh về Ấn Độ làm việc, nhưng khi sang Việt Nam học kỹ thuật “Dr Lương”, được chiêm ngưỡng một kỹ thuật “đẹp” gần như hoàn hảo, anh đã thốt lên: “Cái sự học là vô tận, không bao giờ kết thúc”. Với người thầy thuốc, “thương hiệu” có được chính là sự chưng cất của khổ luyện, của sự miệt mài tìm tòi, sáng tạo hết lòng vì người bệnh. Với người thầy thuốc, sự khâm phục của đồng nghiệp, của bạn bè quốc tế và trên hết là của người bệnh, chính là món quà vô giá và là niềm hạnh phúc không gì đo đếm được |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét